Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2013

Bệnh vẩy nến Nguyên nhân Triệu chứng và điều trị

Bệnh vẩy nến Nguyên nhân Triệu chứng và điều trị
Bệnh vẩy nến(Psoriasis) là một bệnh có tính cách miễn dịch-di truyền với các dấu hiệu trên da và khớp xương. Đặc điểm của bệnh là những vẩy khô mầu bạc hồng, rất ngứa, tụ gọn với nhau. Vẩy lớn nhỏ khác nhau, thường có trên khuỷu tay, cánh tay trước, đầu gối, chân, da đầu và các bộ phận khác trong cơ thể. Bệnh thường kéo dài lâu ngày và hay tái phát.Bệnh khá phổ biến. Bệnh có bất cứ ở tuổi nào nhưng thường là từ 12 tuổi tới 40 tuổi. Khoảng từ10%-15% bệnh xảy ra trước 10 tuổi. Dân da trắng thường bị vẩy nến nhiều hơn người da mầu. Nam nữ đều mắc bệnh nhiều như nhau.
Nguyên nhân
Nguyên nhân gây ra bệnh chưa được biết rõ. Có giải thích cho rằng bệnh gây ra do một sự nhầm lẫn của hệ miễn dịch, đặc biệt là các bạch cầu loại T. Bình thường, các tế bào này tuần hành theo máu khắp cơ thể để truy lùng, tiêu diệt các sinh vật hoặc hóa chất gây bệnh. Trong BỆNH VẨY NẾN, bạch cầu T tấn công nhầm các tế bào biểu bì, tưởng chúng là thù địch. Bị kích thích, biểu bì tăng sinh rất nhanh trong vòng vài ba ngày, thay vì cả tháng như thường lệ. Không tróc kịp, các tế bào này và T cell xếp thành từng lớp vẩy trên da. Nguyên nhân của sự nhầm lẫn vẫn còn trong vòng bí mật và diễn tiến bệnh tiếp tục nếu không được điều trị. Cũng có giải thích bệnh có tính cách thừa kế di truyền và nhiều người trong một gia đình có thể cùng bị bệnh.
Một số yếu tố có thể khiến bệnh phát ra là:
-xúc động tâm lý mạnh ảnh hưởng lên hệ miễn dịch, có thể kích thích bệnh xuất hiện lần đầu hoặc tăng mức trầm trọng của bệnh đang tiến triển.
-chấn thương liên tục trên da như vết trầy, vết cắt, cháy da; nhiễm độc da hoặc cuống họng, nhiễm HIV
-tác dụng của một vài dược phẩm như thuốc chống sốt rét, thuốc trị tâm bệnh lithium, thuốc trị cao huyết áp loại beta blocker. mập phì .thời tiết lạnh hoặc do một vài thực phẩm.
Vẩy nến không lây lan vì không phải là bệnh truyền nhiễm. .
Triệu chứng.
Bệnh vẩy nến thường xuất hiện từ từ, tồn tại một thời gian rồi thuyên giảm. Sau đó bệnh tái phát, nhất là khi có chấn thương da, cháy nắng, viêm, dị ứng thuốc. Dấu hiệu đặc biệt nhất là những mảng vết thương trên da khô, hình bầu dục hoặc tròn, mầu hồng đỏ phủ lên trên là nhiều lớp vẩy mầu bạc. Các vết này rất ngứa và đau. Ngứa vì da khô và dây thần kinh dưới da bị một vài hóa chất kích thích, khiến cho não phát ra cảm giác ngứa, muốn gãi. Ngoài ra, dấu vết trên da có thể là:
Vẩy nếngiọt mầu đỏ hình bầu dục.
-Vẩy nến đảo ngược ở nếp gấp trên da như cơ quan sinh dục, nách.
-Vẩy nến mủ với bóng nước chứa mủ.
-Vẩy nến từng mảng lớn mầu đỏ với hậu quả trầm trọng như rối loạn thân nhiệt, mất cân bằng chất điện giải cơ thể.
-Vẩy nến khớp xương, gây trở ngại cho cử động.
Bệnh thường có trên da đầu, sau vành tai, khuỷu tay, đầu gối, hông, vùng cơ quan sinh dục. Móng tay, lông mày, rốn, hậu môn cũng thường bị ảnh hưởng. Đôi khi bệnh lan khắp cơ thể.
Khi lành, vết thương thường không để lại sẹo và ở trên đầu, tóc vẫn mọc.
Trong 60% các trường hợp, móng tay móng chân cũng bị bệnh: móng chẻ, mất mầu dầy cộm nom như bị bệnh nấm.
Khoảng từ 10 tới 30% bệnh nhân bị viêm khớp-vẩy nến, thường thường ở tuổi 30 tới 50.
Định bệnh
Không có thử nghiệm máu hoặc phương thức khoa học nào để chẩn đoán bệnh. Bác sĩ xác định bệnh qua hình thù, mầu sắc của vẩy trên da, đôi khi lấy một chút mô ở vùng bệnh để tìm tế bào đặc biệt vẩy nến.
Tiên lượng bệnh - Bệnh Vẩy nếnlà bệnh không lây lan. Trừ khi bệnh xâm nhập xương khớp hoặc nhiễm độc, vẩy nến thường không gây ra ảnh hưởng xấu cho sức khỏe tổng quát. Nếu có, chỉ là một chút ảnh hưởng tâm lý, buồn phiền lo âu vì da chẳng giống ai.
Bệnh nhẹ khi dưới 2% da bị ảnh hưởng; trung bình khi da có dấu hiệu bệnh từ 3 đến 10% và nặng khi vẩy bao phủ 10% da.
Tế bào ở các vẩy tăng sinh rất mau, chưa kịp rụng đã ra lớp khác nên các vẩy chùm đè lên nhau. Bệnh gây khó chịu nhất khi xuất hiện ở da đầu, bìu dái, bàn tay, bàn chân và móng tay. Vẩy nến ở lòng bàn tay, bàn chân gây nhiều khó khăn cho người bệnh khi đi đứng, lao động chân tay. Xương khớp cổ tay, cổ chân, đầu gối, lưng quần và cổ cũng thường bị ảnh hưởng và gây ra trở ngại di động, làm việc cho người bệnh.
Bệnh Vẩy nếnlà bệnh mãn tính, tồn tại suốt đời. Bệnh nhân cần thường xuyên điều trị, đôi khi bệnh trầm trọng, cần nhập viện, y phí khá tốn kém.
Điều trị- Điều trị BỆNH VẨY NẾNlà cả một thách thức với mục đích chính là gián đoạn sự tăng sinh quá nhanh của tế bào biểu bì, giảm viêm da, vẩy nến.
Có nhiều phương thức trị liệu khác nhau. Bác sĩ sẽ lựa phương thức thích hợp cho từng bệnh nhân và tùy theo bệnh nặng hay nhẹ. Hiện nay không có trị liệu dứt được Bệnh Vẩy nến, mà chỉ làm dịu tạm thời.
Các phương thức đó là:
1- Thuốc thoa ngoài da:
Với dạng bệnh nhẹ, thuốc thoa trên da có thể giải quyết vấn đề. Bệnh nặng hơn, cần phối hợp với thuốc uống hoặc chích.
a-Thuốc Corticosteroids như Ultravate, Tenovate, Psorcon, rất công hiệu và thường được dùng ở trường hợp bệnh nhẹ hoặc trung bình.
b-Thuốc Donovex thuộc nhóm Vitamin D tổng hợp làm giảm viêm và ngăn sự tăng sinh tế bào da.
c-Thuốc Retinoid từ sinh tố A như Tazorac.
d-Nhựa than đá (Coal Tar) được dùng để trị vẩy nến từ thuở xa xưa để giảm viêm ngứa. Thuốc khá công hiệu, ít tác dụng phụ nhưng có mùi khó chịu lại dính quần áo khó coi.
2- Quang trị liệu với ánh sáng mặt trời, các tia tử ngoại B (UBV), quang hóa trị liệu PUVA (Psoralen Plus Ultraviolet A), laser xung nhuộm màu tía (Pulsed Dye Laser).
3- Dược Phẩm - Có nhiều dược phẩm đặc trị bệnh vẩy nến:
a-Rheumatrex (Methotrexate). Thuốc này được dùng trong trường hợp bệnh nặng, tái phát và không bớt sau khi dùng các phương thức khác. Thuốc phải do bác sĩ quyết định và theo dõi sau khi đã chẩn định bệnh bằng sinh thiết mô bào. Thuốc có nhiều tác dụng phụ mạnh.
b-Neoral (Cycloporine) Thuốc dùng khi bệnh nặng, không thuyên giảm với PUVA, Retinoid hoặc Methotrexate. Thuốc có thể gây ra cao huyết áp và bệnh thận.
c-Retinoid uống (Acitretin), Tegison cho các trường hợp vẩy nến trầm trọng.
d-Dược phẩm sinh học Alefacept (Amevive), etanercept (Enbrel), infliximab (Remicade). Đây là các loại thuốc chích có tác dụng trên tế bào miễn dịch T cell để trị bệnh được nghi là do miền dịch gây ra và được dùng khi các trị liệu khác không thành công.
e-Thuốc có nguồn gốc thảo dược AYURDERME và Kliquidclorophyl-A thuốc mới nhất cho hiệu quả điều trị rất tốt .Tỷ lệ bệnh nhân khỏi bệnh cao đặc biệt không có tác dụng phụ
Kết luận
BỆNH VẨY NẾN là bệnh hơi khó trị, cần kiên nhẫn. Bác sĩ lo chọn lựa thuốc, bệnh nhân cũng cần hợp tác với bác sĩ và tự chăm sóc bệnh của mình.
-Tắm mỗi ngày để loại bỏ vẩy bám trên da. Tránh nước quá nóng, xà bông quá mạnh làm da thêm khô ngứa. Lau da nhẹ nhàng tránh gây tổn thương thêm.
-Pha dầu tắm như Epson, Dead Sea salt, dầu thực vật trong bồn nước, ngâm mình khoảng 15 phút cho da mềm.
-Ngay sau khi tắm, da còn hơi nước, thoa các loại kem làm ẩm da. Mùa lạnh khô, cần thoa kem làm ẩm da nhiều lần trong ngày.
-Nhớ thoa và dùng thuốc trị bệnh do bác sĩ chỉ định
-Giữ hẹn tái khám để bác sĩ theo dõi tiến triển bệnh, thay đổi trị liệu.
-Phơi nắng nhẹ cũng giúp phần nào nhưng đừng để da cháy nắng
-Tránh gãi chỗ ngứa. Giữ da ấm.
-Tìm hiểu thêm về bệnh để biết cách chăm sóc, tránh tái phát hoặc trầm trọng hơn.
Đôi khi người bệnh cũng nên có thái độ hòa hoãn, sống chung hòa bình với Vẩy Nến, một bệnh tương đối lành tính, tuy khó chữa, nhưng không gây hậu quả hiểm nghèo như nhiều bệnh khác.
Các bạn có thể tham khảo kỹ hơn trên hai wedsite chuyên nghành:
Website tham khảm về sản phẩm : Thày thuốc giỏi - http://thaythuocgioi.vn

Website chuyên nghành thuốc và biệt dược::Thuốc chữa bệnh - http://thuocchuabenh.com.vn
Cần tham khảo ý kiến BS . Tuyệt đối Không tự ý mua thuốc về điều trị
Tháng 6 năm 2010 TS Thiên Quang ĐT 0972690610

AYUDERME thuốc chữa bệnh Vẩy nến

AYUDERME thuốc chữa bệnh Vẩy nến
Bệnh tự miễn (autoimmune disease): là tình trạng hệ miễn dịch sản sinh ra kháng thể tự sinh (Auto-Antibody) và tấn công vào các tế bào của chính cơ thể mình. Bệnh gây tử vong đứng hàng thứ 3, chỉ sau các bệnh tim mạch và ung thư.
Đây là bệnh rất phức tạp, mang tính chất hệ thống, nó ảnh hưởng tới hầu hết các cơ quan trong cơ thể, bao gồm nhiều bệnh như lupus đỏ hệ thống, xơ cứng bì, vảy nến, đa xơ cứng, bạch biến,... Trong đó, Luput ban đỏbệnh Vẩy nến là hai trong số các bệnh tự miễn hệ thống điển hình nhất.
Bệnh nhân bị Luput ban đỏ (SLE- systemic lupus erythematosus) có biểu hiện như nổi ban hình cánh bướm ở mặt, viêm da, viêm mao mạch, loét miệng, rối loạn thần kinh, viêm thận, rụng tóc,… Theo Bách khoa thư bệnh học: Trên thế giới, lupus đỏ hệ thống phổ biến ở phụ nữ độ tuổi từ 15-25; Tại Việt Nam, tỉ lệ phụ nữ mắc bệnh này chiếm khoảng 90-95% số ca bệnh lupus. Trong giai đoạn bệnh toàn phát, có thể xuất hiện các tổn thương như tràn dịch màng tim, phổi, viêm thận, co giật, thiếu máu…
Cũng thuộc nhóm bệnh tự miễn, bệnh Vẩy nến: là tình trạng rối loạn tăng sinh tế bào da, rút ngắn chu kỳ tế bào. Theo Bách khoa thư bệnh học, bệnh xảy ra nhiều nơi trên thế giới, chiếm 4-8% trong tổng số bệnh nhân nội trú, thường ởđộ tuổi 18-40, với các triệu chứng như thương tổn vùng da đầu, khuỷu tay, đầu gối, bụng,… đó là lớp vảy màu trắng đục, hơi bóng, gây ngứa, nếu cạo sẽ ra bột trắng như nến. Nếu không được điều trị kịp thời, có thể biến chứng thành vảy nến ung thư hóa, đỏ da toàn thân, viêm đa khớp, vảy nến mụn mủ,… gây ảnh hưởng lớn tới chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Theo những nghiên cứu mới nhất: có 2 yếu tố cơ bản gây ra Bệnh tự miễn: thiếu hụt thông tin tế bào và mất cân bằng miễn dịch. Thông tin tế bào được quy định bởi các phân tử Carbohydrates (Cell Marker - dấu hiệu chỉđiểm tế bào) khu trú trên bề mặt tế bào, cho phép các tế bào tương tác và trao đổi thông tin với nhau. Tế bào nào không có Cell Marker bị coi là lạ và hệ miễn dịch sẽ tấn công chúng. Bệnh tự miễn xuất hiện khi hệ miễn dịch bị suy yếu hoặc khi tế bào của cơ thể bị thoái hóa. Vì vậy, vấn đề cốt lõi trong điều trị các bệnh tự miễn nói chung và lupus đỏ hệ thống, vảy nến nói riêng là cần tăng cường trao đổi thông tin giữa các tế bào để hệ miễn dịch không nhận diện nhầm tế bào có ích.
Hiện nay, việc điều trị các bênh tự miễn gặp rất nhiều khó khăn. Đối với Luput ban đỏbệnh Vẩy nến, các bác sĩ không có nhiều lựa chọn ngoài việc dùng Corticoid nhằm ức chế miễn dịch và một số thuốc điều trị triệu chứng khác như nhóm giảm đau không steroid. Việc dùng Corticoid trong thời gian dài sẽ kèm theo rất nhiều tác dụng không mong muốn như: hội chứng Cushing (cơ thể bị sưng phù do tích nước), xuất huyết tiêu hóa, dễ nhiễm khuẩn, suy tuyến thượng thận, đục thủy tinh thể….Điều trị bệnh tự miễn đòi hỏi liệu trình lâu dài và luôn phải kiểm soát tai biến do dùng thuốc. Các thuốc Tây y hiện nay dù cũ hay mới cũng chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng tạm thời.
Một sản phẩm an toàn, ít tác dụng phụ, giúp tăng cường trao đổi thông tin giữa các tế bào, hỗ trợđiều trị, phòng ngừa căn nguyên của các bệnh tự miễn nói chung và lupus đỏ hệ thống, bệnh Vẩy nến nói riêng là rất cần thiết .

AYUDERME Nhập khẩu trực tiếp từ Ấn Độ .Một bước đột phá mới trong điều trị Bệnh tự miễn
CÔNG DỤNG
- Tăng cường năng lượng cho tế bào, hỗ trợ phục hồi và điều hoà hệ miễn dịch của cơ thể.
- Điều trị và ngăn ngừa các bệnh tự miễn như: lupus ban đỏ hệ thống, bệnh Vẩy nến, xơ cứng bì rải rác,Bệnh phát ban mãn tính, lở ngứa, tổ đỉa ,giang mai, Viêm khớp dạng thấp

Thành phần bao gồm các loại dược thảo sau:.
Cao Sầu Đâu.tác dụng kỳ diệu của lá sầu đâu đã được người Ấn Độ ứng dụng từ xa xưa để làm thuốc chống viêm, chống ung thư, kháng khuẩn, kháng nấm, chữa các bệnh mụn trứng cá, ghẻ, eczema, ngứa, các bệnh phát ban mãn tính khác. Ngoài ra nó còn có tác dụng chống oxy hóa tế bào và kháng các tác nhân gây đột biến gen hoặc ung thư...
Các nước Ấn Độ, Mỹ, Hà Lan, Nhật... đã điều chế sản xuất từ lá sầu đâu thành các dạng thuốc uống, thuốc viên, chữa ghẻ, mụn nhọt, lang ben, hắc lào, sát khuẩn ngoài da, hoặc trị các vết thương làm độc, ung mủ, các vết loét của phong hủi. Nước sắc của cây còn dùng để chữa viêm nha chu, viêm nướu, sâu răng, chữa viêm cơ, viêm khớp. Dùng ngoài đắp lên các ápxe, bướu ác tính, trĩ hoặc các vết thương do rắn, rết cắn.
Mức Hoa Trắng: Lọc máu, làm se, chữa ngứa loét da. ghẻ lở hắc lào
Thổ Phục Linh Trung Quốc:dùng để chữa tê thấp, đau mỏi, tiêu hóa kém, viêm thận, viêm bàng quang, lở ngứa, giang mai, viêm da mủ, giải độc thủy ngân và bạc, eczema (chàm) Chống viêm, lọc máu, kháng khuẩn.và một số bệnh ung thư
Swertia Chirata: Chống viêm, lọc máu.tăng khả năng miễn dịch
Posoralea Coryfolia Extract: Chống nấm, kháng khuẩn, chống viêm da ,điều hòa miễn dịch
Picrorhiza Kurroa:tác dụng tái đạt và cân bằng sức khỏe đã bị mất do rối loạn các bộ phận chức năng của cơ thể. Kích thích hệ thống bảo vệ cơ thể, chống stress, chống viêm nhiễm và kích thích hệ thống miễn dịch, tăng cường sinh dục. Chống viêm da, dị ứng da
Hemidesmus Indicus: Lọc máu,giải độc tiêu viêm ,chống viêm da, làm trẻ lại
Thủy Xương Hồ: Dùng trị trúng phong hôn mê, đau nhức khớp xương do phong thấp, đau răng, tiêu hoá không bình thường, đau bụng, ỉa chảy, Thủy thũng, lỵ, ghẻ nấm Chông viêm da, lọc máu, làm trẻ lại.
Cao Nhọ Nồi:Thuốc bổ máu, cầm máu bên trong và bên ngoài, chữa ho ra máu, lỵ ra máu, rong kinh, băng huyết, chảy máu cam. Còn dùng chữa ban sởi, bệnh nấm ở da, làm thuốc mọc tóc (sắc uống hoặc ngâm vào dầu dừa mà bôi) và nhuộm tóc. Chống viêm da. Dùng Chữa mềđay
Fumaria Parviflora: Có tác dụng chống viêm.
Alstonia Scholaris Extract: Có tác dung lọc máu.
Cao Me Rừng: lọc máu, làm trẻ lại. chữa trị các bệnh phổi, tiểu đường, viêm đau thận, gan, hoa liễu, đậu mùa. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, nhiều hợp chất chiết xuất từ me có hoạt tính chống vi sinh vật gây bệnh như virus viêm gan B, vi khuẩn, nấm..., đồng thời có khả năng giải độc, chống suy giảm miễn dịch, ức chế enzyme sao chép virus HIV-1.
Xuyên Tâm Liên:thanh nhiệt và giải độc, trừ thấp-tác dụng kháng viêm, thải độc, nâng cao sức đề kháng, kháng vi khuẩn và virus. Chữa lở ngứa, rôm sảy,Mụn nhọt sưng tấy, nhiễm trùng ngoài da, Chống viêm da.
Nghệ:Nghệ được dùng để điều trị trong các trường hợp bị đòn ngã tổn thương ứ máu, viêm loét dạ dày, ung nhọt, ghẻ lở, phong thấp, tay chân đau nhức, vàng da làm lành vết thương và các vết dãn da Chống viêm da, lọc máu, kháng khuẩn, điều hoà miễn dịch.
Cao Vỏ Cau: Làm se, lọc máu, chống viêm. Dùng để chưã các bệnh về mồm và lợi, vòm miệng và lưỡi, bệnh ngứa sần (các bệnh ngứa da mãn tính), các bệnh về da, loét da, bị thương.
Hướng dẫn sử dụng và bảo quản:Người lớn uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 2 viên. Bảo quản nơi khô mát dưới 250C, xa tầm tay trẻ em.
Thời hạn sử dụng: 02 năm kể từ ngày sản xuất, thời hạn sử dụng được ghi ở cạnh nhỏ bề mặt phía dưới của hộp nhãn
Chất liệu bao bì và cách quy gói: Chất liệu bao bì: vỉ nhôm, hộp giấy, màng mỏng PE. Quy cách đóng gói: 10 viên/ vỉ; 6 vỉ/ hộp. Khối lượng tịnh 440 mg/ viên.
Giấy chứng nhận: AYUDERME được Cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm cấp giấy Chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm số: 1534/2008/YT-CNTC, ngày 12/03/2008.

Sản phẩm được nhập khẩu chính hãng và đã qua kiểm duyệt của bộ y tế .
Nhà phân phối Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Phụ trách Tư vấn sản phẩm TsThienquang: ĐT :0972690610
Website chuyên nghành về Bệnh học >>>: http://thaythuocgioi.vn/

Website chuyên Thuốc và biệt dược >>>: http://thuocchuabenh.com.vn/
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :
Chi nhánh số 1 :Phòng khám chuyên khoa -Thạc sỹ bác sỹ Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai - HBT – HN
SP có bán tại các Bệnh viên và các nhà thuốc trên toàn quốc

CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC